25-08-2020 | Admin





1. Thập mục Ngưu Đồ

I.- DẪN NHẬP

Trong kinh Di Giáo ( Phật dặn dò các đệ tử khi sắp nhập Niết Bàn ) đức Phật có dạy :” Các thầy Tỳ Kheo ở trong tịnh giới thì phải chế ngự năm thứ giác quan không cho phóng túng vào trong năm thứ dục lạc. Như kẻ chăn trâu, cầm roi mà coi giữ, không cho trâu phóng túng phạm vào lúa mạ của người...”. Thế nên, người có trí thì chế ngự năm giác quan mà không theo giữ như giữ giặc trong nhà, không cho phóng túng. Ông chủ của năm giác quan là TÂM.

“...Phóng túng tâm ra thì làm tan nát việc thiện của người. Chế ngự TÂM lại một chỗ thì không việc gì không thành. Thế nên, các thầy Tỳ Kheo hãy nổ lực tinh tiến mà nhiếp phục tâm mình”.

Dựa vào nội dung lời dạy đó, về sau có vị Tỳ Kheo diễn đạt bằng 10 bức tranh chăn trâu tức là “Thập Mục Ngưu Đồ" để cụ thể hóa công phu tu tập chế ngự TÂM.

II.- XUẤT XỨ :

Tác phẩm này ra đời từ lúc nào? Đến nay vẫn chưa có nhà nghiên cứu nào xác định được, chỉ biết : Đến thế kỷ thứ XII đời nhà Tống, các tòng lâm, tu viện ở Trung Quốc đồng xuất hiện nhiều bộ tranh chăn trâu khác nhau bày tỏ khuynh hướng tu tập mang sắc thái riêng, trong số đó, hai bộ của Thanh Cư và Quách Am được đa số tăng tín đồ tâm đắc và truyền tụng cho đến nay. Về nội dung thì có hai khuynh hướng rõ rệt : Khuynh hướng Đại thừa và khuynh hướng Thiền tông.


III.- SỰ KHÁC NHAU GIỮA TRANH ĐẠI THỪA VÀ TRANH THIỀN TÔNG

1.- Tranh Đại thừa:

a./- Biểu tượng: Vẽ con trâu đen, lần lượt qua từng bức họa, trâu đen hóa trắng lần lần, từ đỉnh đầu lan đến mình rồi đến chót đuôi. Đó là tượng trưng cho phép tu tiệm. Nhờ công phu tu tập, cái tâm vọng lần hồi lọc được trần cấu mà sáng lần lên, cũng như nhờ được chăn dắt mà con trâu hoang lâu ngày chầy tháng thuần thục dần, lớp da đen dơ dáy trắng lần lần.

“ Công phu chầy tháng mới quay đầu

Tâm loạn lần hồi chịu thuần nhu “

b/- Nội dung: Mười bức tranh vẽ lại quá trình công phu của người học đạo, trước hết tự thắng bản năng mình sau đến tự tri cuối cùng chỉ để tự tại mà thôi. Bức tranh cuối cùng tượng trưng sự đoạn tuyệt với tất cả những nếp suy tư của chúng ta, cắt đứt hẳn một trạng thái ý thức và hiện hữu mà thường chúng ta không được biết.

2.- Tranh Thiền tông:

a./- Biểu tượng: Vẽ trâu toàn đen ( hoặc toàn trắng ). Con trâu luôn luôn giữ nguyên vẹn một màu lông qua các giai đoạn biến chuyển. Đó là phép tu đốn. Người thành Phật là thành ở nội tâm, thoát nhiên mà thành, không phải thành lần hồi theo cấp bậc, do đó hoặc là Phật hoặc không là Phật chứ không thể “ suýt “ thành Phật, thành Phật lần lần. Riêng về vòng tròn viên giác nằm ở bức họa thứ 10 của Đại thừa thì ở Thiền tông nằm về thứ 8 với chủ đề là “ Trâu và người đều quên “.

b./- Nội dung: Mười bức tranh của Thiền tông cũng ghi lại bước tiến từng bậc trong thời gian và không gian. Đó là 3 bước : Sai tâm bắt tâm, tâm vô tâm và bình thường tâm.



IV.- Ý NGHĨA MƯỜI BỨC TRANH CHĂN TRÂU CỦA THIỀN TÔNG:

A.- SAI TÂM BẮT TÂM:

1. Tranh một: Tìm trâu


Chú mục đồng đi tìm trâu, tìm ở đâu? Đâu cũng là hoang vu, là rừng rậm, là nẻo dọc đường ngang, chỉ có tiếng ve kêu rộn rã đầu cành.

a./- Ý nghĩa tìm trâu: Xưa nay đâu có mất, săn tìm chi? Bởi quay lưng với giác mà thành ra lỏng lẻo sấn bước vào trận nên mới bị mất đi. Từ đó quê hương càng lúc càng diệu vợi mà đường sá lại gập ghềnh. Cái lẽ được và mất đã cháy bừng bừng, phải và quấy mọc lên tua tủa.

Tụng:
Mang mang bát thảo khứ truy tầm
Thủy khoát sơn điêu lộ cánh thâm
Lực tận thần bì vô mịch xứ
Đãn văn phong thụ vãn thiền ngâm

Dịch:
Nức lòng vạch cỏ rong tìm
Non xa nước rộng đường chim mịt mù
Sức cùng dạ mỏi tìm mô?
Rừng phong bóng ngả nghe hồ ve ngâm.

b./- Nhận định: Đáng lẽ em bé phải giữ trâu của em cho khỏi mất và khỏi nhớp, nhưng đàng này trâu em không còn nữa. Thanh sắc chợ đời đã quyến rũ, tâm ta không còn nữa, nó phóng túng mất rồi.

2. Tranh hai: Thấy dấu


Rồi chú mục đồng thấy được dấu chân trâu

a./- Ý nghĩa: Thấy dấu: Mò kinh để thấy nghĩa học giáo lý để tìm ra tung tích, hết thảy tạo vật là chính ta cả. Chính tà khỏi lựa, chân nguy khỏi phân. Bởi chưa vào được cửa đó nên mượn tiếng kêu la thấy dấu.

Tụng:
Thủy biên lâm hạ tích thiên đa
Phương thảo ly phi kiến dả ma
Túng thị sơn thâm cánh thâm xứ
Liêu thiên tỵ khổng chân tàng tha

Dịch:
Dấu chân dọc bốn ven rừng
Cỏ non chằng chịt biết chúng đâu đây?
Non kia cứ vẫn xa dày
Trói cap mũi hẹp dấu mày được ư?

b./-Nhận định: Nhưng em bé còn đáng khen. Em dò từng dấu chân trâu mà tìm. Cùng một cách đó, người tu tâm phải tự dò xét lại tâm lý của mình.

3. Tranh ba: Thấy trâu


Thấy thân trâu rồi. Thì ra trâu có trốn đâu, tại chú không thấy đó thôi. Trâu vẫn đứng đó một mình tự thuở nào, đôi sừng lẫm liệt mũi dựng mày xanh.

a./-Ý nghĩa: Thấy trâu: Theo tiếng mà vào, ghé mắt mà thấy. Cửa sáu căn tỏ rõ không nhầm. Chất mặn trong nước chất xanh trong màu. Vén lông mày lên là nó chứ ai.

Tụng:
Hoàng ly chi thượng nhất thanh thanh
Nhật noãn phong hòa ngạn liễu thanh
Chỉ thử cảnh vô hồi tị xứ
Sâm sâm đầu giác họa nan thành

Dịch:
Vàng anh trên ngọn líu lo
Gió reo nắng ấm bên bờ cỏ xanh
Chỗ này thôi hết chạy quanh
Đầu sừng rối rắm khó thành vẽ lên

b./-Nhận định: Trâu đây rồi, con trâu hung hăng và dơ bẩn. Biết xét tâm lý của mình, người tu tâm mới thấy nó lộ ra, một tâm lý phóng túng và xấu xa.

4. Tranh bốn: Được trâu


Rồi chú chụp lấy trâu, rồi xỏ mũi, cột cổ, đập đánh, canh chừng không rời mắt, quyết dõng mãnh để mà thắng. Lần lần trâu thuần.

a./- Ý nghĩa: Được trâu: Từ lâu vùi lấp ngoài đồng hoang, hôm nay đã gặp mi. Bởi cảnh đẹp nên mãi dong ruỗi, đắm say cỏ non hoài mãi không thôi. Cứng đầu còn qua lắm, tính buông lung chưa hết. Muốn cho chịu phép mọi bề cần cho roi vọt.

Tụng:
Kiệt tận thần thông hoạch đắc cừ
Tâm cường lực tráng tốt nan trừ
Nửa thời tài đáo cao nguyên thượng
Hựu nhập yên vân thâm xứ cư

Dịch:
Trăm đường mới chụp được mi
Cứng đầu hăng tiết chưa quy thuận nào
Thoảng khi dắt đến gò cao
Lại trông mây nổi dạt dào buông lung

b./-Nhận định: Trâu tuy dơ bẩn nhưng em bé đã xâu mũi được thì không thể hung hăng thêm nữa. Ghép vào phương pháp tu tâm, tâm lý tuy còn xấu xa nhưng cũng không còn phóng túng thêm nữa.

5. Tranh năm: Chăn trâu


Lần lần trâu thuần thục ngoan ngoãn theo chú như bóng theo hình

a./- Ý nghĩa chăn trâu : Niệm trước vừa khởi, niệm sau tiếp theo. Bởi đã giác nên thành chơn. Bởi tại mê hóa ra vọng. Chẳng phải do cảnh mà có nhưng chính do tâm mà sinh, xỏ mũi cầm đầu, không chần chờ gì nữa.

Tụng:
Tiên sách thời thời bất lý thân
Khủng y túng bộ nhập ai trần
Tương tương mục đắc thuần hòa dã
Ky tỏa vô ức tự trục nhân.

Dịch:
Gậy roi mang sẵn kề kề
Ngại y tung vó theo bề trần ai
Sửa lưng mày đó ta đây
Trói chân cho kỹ, mày quay đường nào?

b./- Nhận định : Em bé tắm rửa hơi sạch cho trâu và hai tay em giữ chặt dây mũi, em chăn giữ nó. Người tu tâm cũng vậy: Hãy bắt đầu tẩy uế tâm lý và đừng bao giờ rời phương pháp tu tâm ra.

6. Tranh sáu: Cỡi trâu về nhà


Rồi chú cỡi trâu về nhà, miệng thổi sáo lòng vui không nói được.

a./- Ý nghĩa : Cỡi trâu về nhà : là cỡi tâm về chỗ ban sơ. Người ta đi tìm tâm vì trong đôi giây phút khác tưởng nào, đó người ta đâu ngờ bản thân mình, cũng như ngỡ những điều mắt thấy tai nghe. Có nghe mới có tìm. Có tìm ắt gặp dấu. Gặp dấu trong kinh sách và nhất là trong những phút trống trải, cảnh vắng đêm tàn, trí óc nhẹ suy tư, con người bỗng dưng như đối diện với chính mình trong một niềm đau thương và kỳ thú khó nói.

Thế là bắt được dấu, con người phăng mối đi tìm. Đó là giai đoạn ngoại cầu. Ngoại cầu là kiếm Phật, đi tìm Phật, sai tâm đi bắt, tâm tâm ở đâu mà bắt ? Thử coi, lần lượt qua 6 bức họa, ta thấy khoảng cách giữa trâu và người chăn trâu càng gần lại và cuối cùng ngồi hẳn trên lưng trâu, trâu với người nhập làm một. Vậy nếu hỏi rằng tâm ở đâu? Chẳng khác nào hỏi trâu ở đâu trong khi chính ta đang cỡi trên lưng trâu. Ta đã đuổi bắt tâm pháp đó đây, rốt cuộc mới nhận ra rằng tâm ở nơi ta, ta chỉ cần dừng bước lại là nó liền hiện ra trước mắt và sự vật hiện nguyên hình trong ánh sáng mới lạ.

Dừng bước lại : ai ngờ đâu cái việc làm hết sức là vô vị ấy lại có một thần lực nhiệm mầu có thể thay đổi cả cuộc diện của một kiếp người, cả một lớp người. Nếu thỉnh thoảng loài người chúng ta biết dừng chân lại vài phút, ngồi yên một chỗ vài phút – vài phút thôi – thì khuôn mặt của thế gian này chắc không đến nỗi quá nhăn nheo như ngày nay.

Cỡi trâu về nhà : Đã hết cuộc can qua, đã rồi câu được mất hát bài ca đồng của anh đốn củi, thổi điệu khúc quê của chú bé con, vắt mình trên trâu, mắt mở nhìn mây vời vợi. Kêu reo không quay đầu, kéo lôi cũng không dừng bước.

Tụng:
Kỵ ngưu di lệ dục hoàn gia
Khương địch thanh thanh tống vãn hà
Nhất phách nhất ca vô hạn ý
Tri âm hà tất cổ thần nha

Dịch:
Lưng trâu bước chậm ta về
Sáo lên vi vút ngoài tê ráng chiều
Vừa ca vừa nhịp hiu hiu
Tri âm rồi khỏi ra điều nọ kia

b./- Nhận định: Em bé tắm rửa sạch thân cho trâu chú em ngự trị nó. Tuy nhiên đến lúc này em vẫn chưa rời khỏi chiếc dây mũi. Việc đó cũng còn là bài học của người tu tâm : Hãy tẩy uế thêm nữa tâm lý của mình và ngự trị lấy nó.

B.- TÂM VÔ TÂM:

Tuy nhiên còn tâm là còn cảnh, còn tâm thì còn xúc cảnh sanh tình. Tình sanh thì trí cách. Tâm cảnh tình kết dính vào nhau trong cái thế liên hoàn, cái vòng nhân duyên gây ray rứt, mâu thuẫn.

Không có mâu thuẫn : Thiền là bất nhị pháp môn không hai mà cũng không một.

Mâu thuẫn là do tâm do niệm

Ta niệm vì ta tưởng rằng mình thiếu một cái gì, nên đi tìm ở ngoài mình để đắp vào. Thiền dạy rằng ta không thiếu gì hết, tự đời thuở nào ta vốn là tròn đầy, ngàn trước ngàn sau ta không thiếu trái lại ta có dư : Cái hại là ở đó ta dư đủ thứ do niệm đặt bày ra, do suy tư vẽ vời lên đủ thứ. Những cái dư ấy gọi chung là vô minh. Vô minh vốn không thật, nên không ai hoài công mà trừ nó bao giờ mà chỉ cần tự tri, tự giác thôi. Tự biết được con người thật của mình thì vô minh tan mất, như bóng tối tan trước vừng dương ( Phật dạy trong kinh Viên giác )

Tri huyễn tức ly, ly huyễn tức giác là vậy.

Vậy sau giai đoạn ngoại cầu, tiếp theo là giai đoạn tự tri tự giác. Tự tri không phải bằng suy niệm mà bằng dứt niệm, dứt niệm bằng những phép tu tập vô vi, như tịnh quán chẳng hạn. Bằng tịnh quán, con người thấy là kiến, là tri kiến chứ không phải là học, là nghĩ hay nghe nói ( tất cả bí quyết của sự chứng ngộ đều nằm ở chữ thấy đó ) thấy tâm không thật, thấy người không thật

Thấy tâm không thật thì tâm dứt trâu quên.

7. Tranh bảy: Quên trâu con người


Mục đồng bên túp lều xưa, an nhiên thanh thản không có trâu bên mình nữa cảnh yên tĩnh thanh bình có mặt trời chiếu tỏa, có gió mát có suối trong.

a./- Ý nghĩa: “ Trâu “ không còn là vấn đề. Tỏ rõ: ngã chấp đã dứt nhưng pháp chấp thì còn

Tụng:
Kỵ ngưu dĩ đắc đáo gia sơn
Ngưu dã không hề nhân dã nhân
Hồng nhâït tam can do tác mộng
Tiên thằng không đốn thảo đường gian

Dịch:
Lưng trâu thoắt đã quên mình
Buông trâu mất hút mặc tình thong dong
Nắng cao còn đượm giấc nồng
Quăng roi nhà cỏ hết dùng nữa thôi

b./- Nhận định : Hôm nay thì trâu của em bé được tắm sạch sẽ hoàn toàn rồi, em thảnh thơi thổi sáo, không còn bận bịu đến nó nữa.

Công việc của người tu tâm đến lúc này cũng hoàn tất. Như vậy: tâm ta trong sạch hẳn rồi, không cần phải chế ngự mà tâm vẫn thuần thục không còn phóng túng.

8.- Tranh tám : Người trâu đều không


Và rồi trâu, người đều không, chỉ hiển hiện một vòng tròn chân như

a./- Ý nghĩa : Nhân ngưu câu vong : Thấy người không thật thì người quên nốt.

Người và trâu đều quên thì tự lòng đất dõng mãnh vọt lên mặt trời huệ, tượng trưng bằng cái vòng tròn viên giác. Đó là tâm vô tâm. Biết cái tâm vô tâm ấy là hiểu suốt đạo Phật. Đứng về mặt tâm lý, giác là vượt ra ngoài vòng ràng buộc của bản ngã.

Về mặt lý luận, giác là viên dung vô ngại.

Về mặt siêu hình, giác là trực ngộ được cái lẽ tự tại là luân hồi, luân hồi là tự tại.

Buông bỏ tình phàm, thì ý thánh cũng không. Không vướng đầu này hay đầu nọ.

Tụng:
Tiên sách nhân ngưu tận thuộc không
Bích thiên liêu quách tín nan thông
Hồng lô diệm thượng tranh dung tuyệt
Đáo thử phương năng hiệp tổ tông

Dịch:
Người trâu roi vọt đều không
Trời xanh vời vợi mà trông chóc mòng
Tuyết khoe trắng giữa than hồng
Cội nguồn quê quán tao phùng một phen

b./- Nhận định : Toàn chân của tâm lý hiển lộ, phù hợp với tâm lý viên mãn và thanh tịnh. Sự chăn trâu, sự tu tâm đến đây không còn nói đến nữa.

C.- BÌNH THƯỜNG TÂM:

Thiền cho rằng vô tâm chưa phải là đạo, mà còn phải qua một quan ải nữa:

Mạc vị vô tâm vấn thị đạo
Vô tâm do cách nhứt trùng quan

Trở về là trở về với trời đất, với muôn vật, với nguồn sống vô tận ở trong ta và ở ngoài ta, trở về để như mọi người ( thấy núi chỉ là núi, thấy nước chỉ là nước ). Trở về với trời đất là pháp giới: đó là ý nghĩa của bức họa thứ 9.

9.- Tranh chín: Trở về nguồn cội


Một cảnh tươi sáng thanh bình có suối reo, chim hót, có hàng cây rũ bóng bên bờ vô cùng yên tĩnh.

a./- Ý nghĩa : Phản Bổn Hoàn Nguyên : Trở về nguồn cội. Bản lại thanh tịnh, không vướng một mảy trần. Quan sát vẻ tươi và héo của những gì là hữu tướng, an thân trong cảnh ngưng tịch của đạo vô vi. Không đồng với huyễn hóa cần gì phải tu, phải tri. Nước biếc non xanh, ngồi mà xem cuộc thành bại.

Tụng:
Phản bổn hoàn nguyên dĩ phí công
Tranh như trực hạ nhược manh lung
An trung bất kiến am tiền vật
Thủy tự mang mang hoa tự hồng

Dịch:
Mất công mò lại cội nguồn
Trăng trong một dãi ra tuồng điếc đui
Trong em không thấy cõi nào
Ngoài kia hoa thắm nước trào mênh mông

b./- Nhận định: Trong chân lý ấy hiện đủ cảnh sắc thanh bình vốn có của chân lý

10.- Tranh mười: Thỏng tay vào chợ


Hành giả bước vào chợ đòi một cách thanh thản

a./- Ý nghĩa : Cảnh lá rụng về cội, nước chảy về nguồn. Tự đời thuở nào con người vốn là thanh tịnh, vốn là không, nên thiền dạy khỏi phải làm gì hết, chỉ tìm thấy giác tánh là được, trở về để mà nhập cuộc.

Nhập cuộc là nhập vào cái trật tự , tự nhiên, không thủy không chung của trời đất.

Trong trật tự ấy, chúng sanh là một pháp vô tâm nên vô sự, vô vi. Muôn pháp đều vô vi mà bình đẳng nhau trong pháp giới vô ngại : Nước chảy hoa rơi, trăng lên gió mát. Muôn vật đều vô ngại nên tự tại, không phải tự tại ở niết bàn, không phải tự tại trong phiền não mà tự tại trong không. Niết bàn phiền não chỉ là trò ảo thuật của tâm. Trong trạng thái không thấy, những danh từ thánh phàm phải trái, tỉnh mê, đều mất nghĩa, tất cả đều là đại đồng, ứng hóa từ một giác tánh nên: Nhất thiết không niết bàn

Không có niết bàn Phật
Không có Phật niết bàn.
( kinh Lăng Già )

Dịch:

Tất cả là một, một là tất cả.
Một hạt bụi chứa đủ ba ngàn thế giới
Ba ngàn thế giới là một hạt bụi: đều là không
Có thì có cả mảy may
Không thì cả thế gian này cũng không
Nhìn xem bóng nguyệt dòng sông
Ai hay không có, có không là vầy



b./- Nhận định : Đó là cái thấy của hàng Bồ tát quán tự tại nghĩa là quán đến chỗ cùng tột và tuyệt đối của sự vật. Trở về với thế tục : Dưới lớp áo của thế tục, đạo sĩ trộn lẫn vào cát bụi của tình đời. Và cát bụi cũng không thấy là bợn nhơ nữa mà chỉ là một diệu dụng, như hằng sa diệu dụng khác của giác tánh bồ đề. Đạo sĩ không phải là Phật, là Bồ tát mà chỉ là người thường, rất thường, một người vô tâm, vô sự, vô tích sự, một người không là gì hết, một vị chơn nhơn.

Vào rừng không khua lá, vào nước không quật sóng ( dịch câu : “ nhập lâm bất động thảo, nhập thủy bất lập ba ”)


Trở về thế tục là trở về cái tâm bình thường. Thiền dạy : bình thường tâm thị đạo.


Quốc sư Phù Vân đời nhà Trần nói : Lấy cái muốn của thiên hạ làm cái muốn của mình. Lấy cái tâm của thiên hạ làm cái tâm của mình, chứng được đạo lý ấy thì làm gì cũng hiệp đạo. Không theo, không lìa, không đứng, không dính, tụng hoành tự tại, đâu cũng là đạo tràng, pháp nào cũng là phật pháp, đói ăn khát uống cũng là Phật pháp.

Cho nên vị sư trong thập mục ngưu đồ thỏng tay đi vào chợ, tay ôm bầu nước, tay ôm gậy tre, đánh bạn với bợm nhậu. Họ và thầy đều là Phật cả mà. Đó là vô trụ niết bàn.

a./- Ý nghĩa : Vào chợ buông tay

Khép cánh cửa sài, một mình một bóng, dù thánh hiền vạn cổ cũng không hay. Chôn vùi cái vạn võ của riêng ta, bỏ lại lối mòn của cố đắc. Mang bầu vào chợ, chống gậy về nhà, hàng rượu hàng cá dạy cho thành Phật hết.

Tụng:

Lộ hung tiển túc nhập triền tai

Mạc thổ đồ hôi tiếu mãn tai

Bất dụng thần tiên chân bí quyết

Trực giao khô mọc phóng hoa khai

Dịch:

Lưng trần chân đất chợ người

Cát lầm bụi vẩn ta cười say sưa

Thần tiên bí quyết cũng thừa

Cây khô thoắt đã đong đưa nhụy vàng

b./- Nhận thức: Bây giờ người tu tâm lên đường quay lại trần gian tiếp tục giúp ích cho bao kẻ như mình xưa kia.

V.- TRANH CHĂN TRÂU VỚI TIẾN TRÌNH TU HỌC CỦA HUYNH TRƯỞNG


Tiến trình tu học của Huynh Trưởng được xây dựng trên từng bước theo “ Thập Mục Ngưu Đồ “. Giờ đây chúng ta phải phát tâm lập nguyện truy tìm, chứng nghiệm tự tánh bằng cách xả bỏ tham ái chấp thủ, hành thiện khử ác. Đó là phần diệu dụng của giới ( 6 bức đầu của Thiền tông )

Dẹp bỏ tạp niệm, an trú trong chánh niệm, làm chủ mình, tiêu trừ điên đảo vọng tưởng đi vào Định và thể nhập được tâm tánh, đó là chỗ vô cầu vô tướng vô tác hay còn gọi là “ Tâm vô tâm “( bức 7,8 của Thiền tông )

Tự tại trước tử sanh, rong chơi trong phiền não, hành thâm Bồ tát hạnh độ sanh. Thoát vượt khỏi luân hồi nghiệp chướng, Huệ trí khởi phát chói rạng. Không còn âu lo muộn phiền vì đã nhập chơn thật trí, nhập pháp giới tánh, tất cả không ngại. Tức “ Bình thường tâm” ( 2 bức cuối cùng của Thiền tông )

V.- KẾT LUẬN

Để gom hết yếu lý chung của 10 bức tranh chăn trâu chúng tôi xin chép lại bài kệ sau đây thay lời kết luận

Tầm ngưu tu phóng tích
Học đạo quý vô tâm
Tích tại ngưu hoàn tại
Vô tâm đạo dị tầm
Dịch : Tìm trâu cần phăng dấu
Học đạo cốt vô tâm
Dấu đâu thì trâu đó
Vô tâm đạo để tầm.



BBT VeDepPhatPhap.Vn st