12-03-2020 | Admin

40 năm, 20 năm, 10 năm hay chỉ một năm nhưng hợp số cũng để ước lượng thời gian hữu vi. Tâm lực, đạo lực, Đức lực, Trí lực sẽ mãi bất tận với không gian vô vi trong và ngoài pháp của bốn biển.



Đại đức Thích Quảng Hương, người gốc Tuy Hòa – Phú yên. Năm 1943, xuất gia đầu Phật với Hòa Thượng trụ trì chùa Kim Cang (Phú yên). Tốt nghiệp Phật học viện Nha Trang, được Hòa thượng Hội chủ Tổng hội Phật giáo Trung phần bổ nhiệm về làm trụ trì chùa Sắc tứ Khải Đoan và giảng sự tại Tỉnh hội Daklak vào năm 1961.
Vào thời ấy (1961-1962), tại Daklak chỉ vỏn vẹn có 5 ngôi chùa: Sắc tứ Khải Đoan (trụ sở Tỉnh hội), Châu Phong (Quảng Nhiêu nay là huyện Cư M’Gar), Nam Thiên (Đạt Lý nay là xã Hòa Thuận), Tây Thiên (đồn điền cao su CHPI nay là phường Tân Lập) và Đông Độ (Meval). Trong khi đó, đồng bào ta (trong đó có nhiều Phật tử) từ các tỉnh Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên v.v…….. bị chính phủ Ngô Đình Diệm cưỡng ép đưa lên Daklak để khẩn hoang lập ấp gọi là vùng dinh điền. Đời sống của bà con ở các nơi ấy, về kinh tế nhờ thiên nhiên ưu đãi, đất đai màu mỡ nên cuộc sống tạm ổn định, song về mặt tinh thần thì lúc nào cũng bị đe dọa, bức bách. Nhất là những tín đồ Phật tử thì bị phân biệt đối xử, kỳ thị. Bà con Phật tử muốn lập một ngôi chùa (dù là mái tranh vách nứa) cũng rất là khó, phải đấu tranh năm lần bảy lược với chính quyền mới được, nhưng phải cất ngoài hàng rào ấp chiến lược, có nơi dễ dãi thì cất trong hàng rào nhưng phải ở tận sâu cùng ấp chiến lược.

Thấu rõ nỗi thống khổ ấy, đại đức Thích Quảng Hương nhiều lần đề nghị với Ban Trị sự Tỉnh hội tìm biện pháp giúp đỡ, can thiệp. Nhưng lời đề nghị của Thầy không có hiệu quả. Bức xúc trước tình cảnh ấy, Thầy thổ lộ với một số anh em Ban Hướng dẫn Gia Đình Phật tử về ý định dấn thân của thầy cho đồng bào Phật tử ở các vùng dinh điền...

Năm 1963, đứng trước phong trào đấu tranh đòi bình đẳng và tự do tôn giáo, chủ quyền dân tộc của Phật giáo miền Nam ngày càng quyết liệt. Ngọn lửa thiện của Bồ tát Thích Quảng Đức ngày 11/6/1963 đã làm chấn động toàn thế giới, hàng triệu Tăng Ni Phật tử từ già đến trẻ đểu tình nguyện hy sinh cho đạo pháp bằng những cuộc biểu tình, tuyệt thực đình công bãi khoá, tự thiêu.

...

Đại đức Thích Quảng Hương, một vị Tăng trẻ với 37 tuổi đời, 20 tuổi đạo đã có công hạnh lớn đối với sự nghiệp phát triển Phật giáo tỉnh nhà nói riêng và Phật giáo Việt Nam nói chung.

http://khaidoan.com.vn/vi/news/Gioi-Thieu/THANH-TU-DAO-THICH-QUANG-HUONG-2196/


Hòa thượng họ Nguyễn, húy Văn Kính, pháp danh Tâm Như, tự Đạo Giám, pháp hiệu Thích Trí Thủ. Ngài sinh ngày 19 tháng 9 năm Kỷ Dậu, tức ngày 01-11-1909 trong một gia đình nho phong thanh bạch, tại làng Trung Kiên, tổng Bích Xa, phủ Triệu Phong (Nay là xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong) tỉnh Quảng Trị. Thân phụ là cụ Nguyễn Hưng Nghĩa, thân mẫu là cụ Lê Thị Chiếu. Hai cụ là người rất kính tín Tam Bảo. Vì vậy, dù là con trai độc nhất trong gia đình, lúc 14 tuổi Ngài đã được song thân cho vào học kinh kệ ở chùa Hải Đức - Huế.

....


Thống nhất Phật giáo là nguyện vọng tha thiết nhất trong cuộc đời tu hành của Ngài. Do đó, khi được giao nhiệm vụ đứng đầu Hội Việt Nam Phật Học, Ngài liền vận động thống nhất Phật giáo cả nước. Năm 1951, một đại hội gồm 51 đại biểu đại diện cho 6 tập đoàn Phật giáo, cả ba miền Nam, Trung, Bắc họp tại chùa Từ Đàm ngày 06 tháng 5 dương lịch, đã quyết nghị thành lập Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam, đáp ứng nguyện vọng tha thiết của hàng Tăng sĩ và cư sĩ đã từng ước ao thống nhất Phật giáo Việt Nam.

Năm 1952, trong chức vụ Ủy viên Hoằng pháp của Giáo Hội Tăng Già Trung Việt, Ngài đã đặt viên đá cho ngôi trường Trung, Tiểu học tư thục Bồ Đề đầu tiên của hội tại thành nội Huế. Từ đó về sau các trường Bồ Đề từ bậc Tiểu học đến bậc Trung học được lần lượt mở ở các tỉnh hội khắp Trung Việt, lan vào cả Sài gòn.

Năm 1956, Đại hội kỳ II của Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam họp tại chùa Phước Hòa (Sài gòn), Ngài được bầu làm Ủy viên Giáo dục. Cũng trong năm này, Phật học viện Nha Trang được thành lập tại chùa Hải Đức trên núi Trại Thủy, Ngài được giao nhiệm vụ Giám viện.

...


Năm 1969, Ngài được Hội đồng Lưỡng viện Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất tấn phong pháp vị Hòa thượng. Cùng năm này, Ngài khai Đại giới đàn tại Phật học viện Nha Trang. Năm 1969, Ngài trùng tu Tổ đình Báo Quốc-Huế. Năm 1970 Ngài mở lớp Trung đẳng II chuyên khoa tại Phật học việnNha Trang, đến năm 1974 chuyển thành Viện Cao Đẳng Phật Học Nha Trang, Hòa thượng Thiện Siêu được thỉnh cử làm Viện trưởng.

....

Sau bao gian lao, vượt qua bao khó khăn trở ngại từ mọi phía, Ngài đã được các hệ phái Phật giáo đề cử làm Trưởng ban vận động thống nhất Phật giáo. Không lâu sau đó ngày 07-11-1981 Đại hội Thống nhất Phật giáo được tổ chức tại chùa Quán Sứ - Hà Nội, thành lập Giáo Hội toàn quốc với danh xưng “ Giáo Hội Phật giáo Việt Nam”. Ngài được bầu làm Chủ Tịch Hội Đồng Trị Sự Trung Ương - nhiệm kỳ I.

Trách nhiệm Phật sự khó khăn cho nền Thống nhất Phật giáo hoàn thành, đáng lẽ đã đến lúc Ngài lui vềan trú tại chốn già lam thanh tịnh. Nhưng Ngài đã không quản tuổi già sức yếu, vẫn một lòng phụng sựđạo pháp. Ngài đã dẫn đầu Đoàn đại biểu Phật giáo Việt Nam tham dự Đại hội lần thứ 5 (1979), lần thứ 6 (1982) của Tổ chức Phật Giáo Châu Á Vì Hòa Bình (ABCP) họp tại Mông Cổ. Năm 1980, Ngài làm trưởng đoàn đại biểu Tôn Giáo Việt Nam dự hội nghị các nhà Tôn Giáo Thế Giới vì hòa bình và giải trừquân bị, chống chiến tranh hạt nhân, tổ chức tại Nhật Bản. Năm 1981, Ngài làm trưởng đoàn đại biểuPhật giáo Việt Nam dự hội nghị các nhà hoạt động Tôn Giáo Thế Giới vì hòa bình và sự sống, chống chiến tranh hạt nhân, tổ chức tại Liên Xô.

https://thuvienhoasen.org/a14773/ttt-tieu-su-ht-thich-tri-thu

Cố Trưởng Lão Hòa Thượng húy thượng Nguyên hạ Mỹ, tự Đức Chơn, hiệu Hải Tánh, thế danh Phạm Hữu Thầm, sinh năm 1932 tại làng Quy Lai xã Phú Thạnh, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế. Xuất thân trong một gia đình nhiều đời chánh tín Tam bảo, thân phụ là cụ ông Phạm Hữu Vân, Pháp danh Nguyên Đàm, thân mẫu là cụ bà Hồ Thị Lành, pháp danh Nguyên Mẫn. Thuở nhỏ, Hòa thượng thường theo song thân đến chùa lễ Phật, tu tập hạnh lành. Do ngưỡng mộ cao phong và tâm lượng hoằng pháp của bậc Thầy lớn húy thượng Trí hạ Thủ, Hòa thượng đã xin phép song thân xuất gia đầu Phật tại Chùa Ba La Mật, Cố Đô Huế, được Thầy ban cho pháp danh Nguyên Mỹ.

...

Sau mùa Pháp nạn 1963, Hòa thượng vào Sài Gòn tu học và hành đạo. Trong thời gian này, Hòa thượng đảm nhận các Phật sự: Trụ trì chùa Long Huê – Gò Vấp, Trụ trì tu viện Quảng Hương Già Lam, Chánh Đại Diện GHPGVNTN xã Hạnh Thông Tây. Khi về trụ trì Chùa Long Huê, Hòa thượng đã khai sinh GĐPT Quảng Hương (nay là GĐPT Đức Chơn), trợ duyên và bảo bọc GĐPT hết lòng.

...

Dấu chân in đậm tâm hạnh từ bi của Ngài đã góp phần khai sơn, trùng kiến các Niệm Phật đường, Tự Viện tại các vùng kinh tế mới cho Phật tử niềm Trung di cư nương tựa tu học, và đó cũng chính là nhân duyên để GĐPT được khai mở, thực hiện sứ mạng giáo dục tuổi trẻ theo con đường Phật pháp, nuôi dưỡng lý tưởng tình Lam.

Những năm cuối thập niên 80, đầu thập niên 90, Ngài đã khai sơn Chùa Viên Thành, Chùa Phúc Hậu tại Tỉnh Bình Phước. Đến năm 2016, Hòa thượng hoan hỷ nhận lời cầu thỉnh của Phật tử tại Nam Định, đứng ra vận động tài chánh, hướng dẫn tinh thần, và tổ chức trùng kiến Chùa Quan Âm, huyện Nam Trực, Tỉnh Nam Định.

Từ năm 2004, Hòa thượng ủy thác Phật sự trụ trì Tu viện cho Hòa thượng Thích Nguyên Giác, Ngài được Môn phái suy tôn Viện chủ Tu viện Quảng Hương Già Lam, và Ngài cùng với Hòa thượng trú trì tổ chức đại trùng tu Tu viện dưới sự hộ trì của tứ chúng.

..

Năm 2013, Ngài vị tác Đường Đầu Hòa Thượng Giới đàn Đức Nhuận, tháng 10 năm 2017, Ngài vị tác Đường Đầu Hòa Thượng Giới Đàn Thiện Minh do Hội Đồng Tăng Già Bản Thệ, Hội Đồng Cố Vấn Giáo Hạnh GĐPTVN tổ chức. Hòa thượng còn là vị Thầy Bổn Sư truyền giới cho hàng ngàn Phật tử, làm Đường Đầu Hòa Thượng các giới đàn truyền Thập Thiện Giới, Tại Gia Bồ Tát Giới do Tu viện Quảng Hương Già Lam, BHD Trung Ương GĐPTVN, BHD GĐPTVN trên Thế Giới kiến lập tại Việt Nam, Thái Lan.

https://gdptthegioi.net/2018/11/tieu-su-duc-truong-lao-hoa-thuong-thuong-duc-ha-chon-vien-chu-tu-vien-quang-huong-gia-lam/


Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ, tên thật là Phạm Văn Thương, sinh năm 1943 tại tỉnh Pakse, nước Lào.

Từ năm 6 tuổi Thầy đã học giới Sa Di ở Huế. Năm 12 tuổi Thầy về Sài Gòn, sau đó trở lại tu học ở chùa Từ Đàm tại Huế, Phật Học Viện ở Nha Trang, rồi về thiền việnQuảng Hương Già Lam tại Gò Vấp. Thầy tốt nghiệp Viện Cao Đẳng Phật Học Sài Gòn năm 1964 và Viện Đại Học Vạn Hạnh năm 1965. Thầy được đặc cách bổ nhiệm Giáo Sư thực thụ Viện Đại Học Vạn Hạnh năm 1970 nhờ những công trìnhnghiên cứu và những khảo luận triết họcgiá trị rất cao, như Đại Cương Về Thiền Quán, Triết Học Về Tánh Không. Thầy rất giỏi về chữ Hán và biết nhiều ngọai ngữ như Anh, Pháp, Đức, thông thạo tiếng Pali và tiếng Phạn.

Thầy Tuệ Sỹ là một học giả uyên bác về Phật Giáo Nguyên ThủyĐại Thừa. Thầy làm nhiều thơ, chơi dương cầm, viết một số truyện ngắn đặc sắc. Thầy ở trong Ban Biên Tập của tạp chí Khởi Hành và là chủ bút tạp chí Tư Tưởng của Viện Đại HọcVạn Hạnh.

...

Sau năm 1975, Thầy Tuệ Sỹ về Nha Trang làm rẫy. Đến năm 1977 Thầy vào Sài Gòn sống ở chùa Già Lam. Đầu năm 1978, Thầy bị nhà cầm quyền cộng sản bắt giam trong nhà tù cải tạo cho tới đầu năm 1981.

..

Tháng 4 năm 1999, Hòa Thượng Quảng Độ, Viện Trưởng Viện Hóa Đạo, đề cử Thầy Tuệ Sỹ làm Tổng Thư Ký Viện Hóa Đạo. Ngày 14-9-1999 Công An bắt Thầy lên trụ sở làm việc về “những hành động phạm pháp” phát hiện trong máy vi tính của Thầy bị tịch thu. Thầy Tuệ Sỹ phản đối những lời vu cáo của Công An trong khi bị thẩm vấn.
Với trách nhiệm Phó Viện Trưởng Viện Hóa Đạo, Thầy Thích Tuệ Sỹ hiện nay là một trong những nhà lãnh đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, là người đóng góp rất nhiều cùng với nhị vị Hòa Thượng Thích Huyền Quang và Thích Quảng Độ trong công cuộc đấu tranh đòi quyền tự do tôn giáo tại Việt Nam.

https://hoavouu.com/a19762/hoa-thuong-thich-tue-sy



http://www.daophatngaynay.com/vn/phatgiao-vn/con-nguoi-vn/29195-ve-xa-loi-cua-truong-lao-hoa-thuong-thich-tri-quang.html



Khi chiếc linh xa chở kim quan cố Hòa thượng Thích Trí Quang rẽ vào Nghĩa trang Vĩnh Hằng ở xã Thủy Bằng, huyện Hương Thủy, nơi có lò thiêu để làm lễ trà-tỳ, thì mưa bắt đầu dịu. Nhớ lại đêm qua, 14-10-Kỷ Hợi (10-11-2019), ngồi bên kim quan ngài, tôi nghe anh Thiện, ngày xưa từng làm điệu ở Từ Đàm hầu ngài, nói với chúng tôi: “Thầy biết không, mấy tháng trước Ôong (Ôn) nói với tui, đưa đám Ôong trời sẽ mưa”.

..

9 giờ sáng ngày 19-12-2560 (2016), ngài đã truyền và cấp chứng điệp đắc pháp cho 12 Tỷ-kheo, đó là HT.Phổ Thọ - Thích Trung Hậu (trụ trì chùa Linh Thái, TP.HCM, đệ tử xuất gia và đắc pháp của ngài, đã mất năm 2018), Phổ Tịnh - Thích Thiện Tấn, Phổ Hiền - Thích Hải Ấn, Phổ Nhãn - Thích Nguyên Giác (đệ tử y chỉ), Phổ Hóa - Thích Tánh Nhiếp, Phổ Thành - Thích Trí Tựu, Phổ Thắng - Thích Thanh Hòa, Phổ Kính - Thích Quảng Phú, Phổ Đẳng - Thích Phước Nguyên, Phổ Minh - Thích Thánh Chủng, Phổ Quang - Thích Nguyên Lợi, Phổ Nhơn - Thích Pháp Hiền. Ngoài 12 vị này, còn có một đệ tử y chỉ là Thích Lệ Giản (tức Thích Nhuận Tâm), một trong những thị giả hầu ngài, khi ngài còn ở già-lam Quảng Hương.
Như vậy, pháp tử của Trưởng lão Hòa thượng Thích Trí Quang hiện nay chính thức có 12 người như đã nêu trên.
Tất cả pháp tử này không có ai được chia riêng một phần nào cả.
Tôi đã trao đổi với những vị phụ trách trang mạng của gdptvn.org, nói cho họ biết họ là nạn nhân của tin giả và của những kẻ lạm xưng. Họ đã thừa nhận sự thật này.
Thế thì, vì lý do gì, với cơ tâm gì, người ta đã tung tin xuyên tạc, hay mạo nhận được chia tro cốt xá-lợi của ngài? Trả lời câu hỏi này, chúng tôi để dành cho những ai tung tin thất thiệt, những ai mạo nhận được chia, và cho quý vị độc giả.
Phần tôi, trước những thảm họa do tin giả gây ra trong thời đại thông tin, chỉ xin chia sẻ với mọi người đoạn kinh ngắn Đức Phật đã dạy La-hầu-la rèn luyện khả năng hội nhập đời sống của những bậc tôn quý trên đời, không hại mình, hại người:
“Này Rahula, đối với ai biết mà nói láo, không có tàm quý, thời Ta nói rằng người ấy không có việc ác gì mà không làm. Do vậy, này Rahula, Ta quyết không nói láo, dầu nói để mà chơi” (HT.Thích Minh Châu dịch, Kinh Trung bộ II - kinh Giáo giới La-hầu-la ở rừng Am-bà-la, tr.174).











VEDEPPHATPHAP.VN Biên Soạn