23-06-2019 | Admin

Film Khi Mê Thầy Độ, Khi Ngộ Con Tự Độ.



Khi mê Thầy độ - ngộ rồi tự độ


Lục Tổ Huệ Năng (638 - 713 T.L) họ Lư, tổ tiên quê ở Phạm Dương, cha tên Hành Thao mẹ là Lý Thị. Đời Võ Đức (618-627 T.L) nhà Đường cha Ngài làm quan ở Nam Hải, sau dời về Tân Châu và Ngài được sanh ra ở đó.


Năm Ngài được ba tuổi, cha mang bệnh rồi mất, mẹ thủ chí nuôi con. Ngài lớn lên trong gia đình rất nghèo túng. Mỗi ngày, phải vào rừng đốn củi đem ra chợ đổi gạo mang về nuôi mẹ.

Một hôm, nhơn gánh củi ra chợ bán, có người mua bảo gánh đến nhà. Khách nhận củi xong, Ngài lãnh tiền lui ra khỏi cửa. Thấy một người khách tụng kinh, Ngài nghe qua lời kinh tâm liền khai ngộ, bèn hỏi tụng kinh gì. Khách bảo: "Kinh Kim Cang." Ngài lại hỏi: "Thọ trì kinh này ở đâu?" Khách bảo: "Tôi từ chùa Đông Thiền, huyện Huỳnh Mai, Kỳ Châu đến. Chùa ấy do Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn Đại sư làm chủ giáo hóa, đệ tử có hơn một ngàn người, tôi đến đó lễ bái, nghe nhận kinh này. Đại sư thường khuyên kẻ tăng người tục chỉ trì kinh Kim Cang liền được thấy tánh, thẳng đó thành Phật." Ngài nghe nói, do đời trước có duyên nên được một người khách cho Ngài mười lượng bạc để giúp nuôi dưỡng mẹ già và bảo đến Huỳnh Mai tham vấn Ngũ Tổ.

Ngài an trí mẹ xong liền từ giã ra đi, khoảng hơn một tháng thì đến Huỳnh Mai lễ bái Ngũ Tổ. Tổ hỏi: "Ngươi từ phương nào đến, muốn cầu vật gì?" Ngài đáp: "Đệ tử là dân Tân Châu thuộc Lãnh Nam, từ xa đến lễ Thầy, chỉ cầu làm Phật, không cầu gì khác!" Tổ bảo: "Ông là người Lãnh Nam, lại là người quê mùa, làm sao kham làm Phật?" Ngài liền đáp: "Người tuy có Nam Bắc nhưng Phật tánh vốn không có Nam Bắc, thân quê mùa này cùng với Hòa thượng chẳng đồng, nhưng Phật tánh đâu có sai khác." Ngũ Tổ muốn cùng Ngài nói chuyện, nhưng thấy đồ chúng hai bên đông, nên bảo theo chúng làm công tác. Ngài thưa: "Huệ Năng xin bạch Hòa thượng, tự tâm đệ tử thường sanh trí tuệ, không lìa tự tánh tức là phước điền, chưa biết Hòa thượng dạy con làm việc gì?" Tổ bảo: "Kẻ nhà quê này căn tánh rất lanh lợi. Ông đừng nói nữa, xuống nhà bếp đi!"

Ngài lui lại nhà sau, có một người cư sĩ sai Ngài bửa củi, giã gạo, trải qua hơn tám tháng. Một hôm, Tổ chợt thấy Ngài mới bảo: "Ta nghĩ chỗ thấy của ngươi có thể dùng, nhưng sợ có người ác hại nên không nói, ngươi có biết chăng?" Ngài thưa: "Đệ tử cũng biết ý của Thầy nên không dám đến nhà trên, để mọi người không nhận biết."

Một hôm, Ngũ Tổ bảo các đệ tử: "Tất cả hãy đến, ta nói với các ông: Người đời sanh tử là việc lớn, các ông trọn ngày chỉ cầu phước điền, chẳng cầu ra khỏi biển khổ sanh tử, tự tánh nếu mê thì phước nào có thể cứu? Các ông, mỗi người hãy đi, tự xem trí tuệ của mình, nhận lấy tánh Bát-nhã nơi bản tâm mình, mỗi người làm một bài kệ đến trình cho ta xem, nếu ngộ được đại ý thì ta trao y pháp làm Tổ thứ sáu. Phải nhanh đi, không được chậm trễ, suy nghĩ tức là không trúng. Người kiến tánh ngay lời nói phải thấy, nếu là người này dù khi múa đao giữa trận cũng được thấy tánh."

Khi nghe Ngũ Tổ chỉ dạy, đại chúng trở về họp bàn với nhau: "Tất cả chúng ta không cần phải lắng lòng dụng ý làm kệ để trình Hòa thượng, vì sẽ không có lợi ích gì. Thượng tọa Thần Tú hiện là Giáo thọ sư, ắt là người được, chúng ta có gắng làm kệ tụng cũng uổng dụng tâm lực." Mọi người nghe lời này, thảy đều đồng ý nói: "Chúng ta về sau y chỉ Thượng tọa Thần Tú, nhọc gì phải làm kệ."

Thần Tú suy nghĩ: "Các người đều không trình kệ vì ta làm Giáo thọ sư cho họ, ta cần phải làm kệ trình lên Hòa thượng; nếu không trình kệ thì Hòa thượng đâu biết được kiến giải trong tâm ta cạn hay sâu? Ý ta trình kệ để cầu pháp thì tốt, nếu để cầu làm Tổ thì quá xấu hổ, vì giống với tâm của kẻ phàm phu muốn cướp được ngôi vị Thánh, nếu chẳng trình kệ thì trọn không được pháp. Rất khó! Rất khó!"

Trước nhà của Ngũ Tổ có một hành lang ba gian, Ngũ Tổ nghĩ mời ông Cung Phụng Lư Trân đến vẽ "Lăng-già biến tướng và Ngũ Tổ huyết mạch đồ" để lưu truyền cúng dường. Ngài Thần Tú làm kệ rồi, mấy phen muốn trình, đi đến nhà trước thì trong tâm hoảng hốt, toàn thân đổ mồ hôi, nghĩ trình chẳng được. Như thế trải qua bốn ngày, đến mười ba lần nhưng vẫn không trình kệ được. Thần Tú mới suy nghĩ: "Chẳng bằng đến dưới hành lang viết bài kệ, Hòa thượng đi qua xem thấy, nếu chợt bảo rằng hay thì mình ra lễ bái thưa của Thần Tú làm; nếu nói không kham thì thật uổng công ở núi mấy năm, thọ người lễ bái, lại tu hành đạo lý gì?" Canh ba đêm ấy, không cho người biết, Ngài tự cầm đèn viết bài kệ ở vách phía Nam để trình chỗ tâm mình thấy được:

Thân thị bồ-đề thọ,                    Thân là cội bồ-đề,

Tâm như minh cảnh đài.          Tâm như đài gương sáng.

Thời thời cần phất thức,           Luôn luôn phải lau chùi,

Vật sử nhạ trần ai.                     Chớ để dính bụi bặm.

Ngài Thần Tú viết kệ xong, liền trở về phòng, mọi người đều chẳng biết. Thần Tú lại suy nghĩ: "Ngày mai Ngũ Tổ thấy bài kệ, nếu hoan hỉ tức ta cùng với pháp có duyên, nếu nói không kham thì tự là ta mê, nghiệp duyên đời trước nặng nề, không hợp được pháp, thật là Thánh ý khó lường!" Trong phòng suy nghĩ, ngồi nằm chẳng an cho đến canh năm.

Ngũ Tổ đã biết Thần Tú chưa vào cửa được, không thấy tự tánh. Sáng hôm sau, Tổ gọi ông Lư Cung Phụng đến hành lang phía Nam để vẽ đồ tướng trên vách, chợt thấy bài kệ, Ngài bảo Cung Phụng rằng: "Thôi chẳng cần phải vẽ, nhọc công ông từ xa đến. Trong Kinh có nói: Phàm những gì có tướng đều là hư vọng, chỉ để lại một bài kệ này cho người tụng đọc thọ trì, y theo bài kệ này mà tu thì khỏi đọa trong ác đạo, được lợi ích lớn." Ngũ Tổ khuyên đồ đệ thắp hương lễ bái cung kính và tụng đọc bài kệ này tức được thấy tánh. Môn nhân tụng bài kệ đều khen: "Hay thay!"

Đến canh ba, Tổ mới gọi Thần Tú vào trong thất hỏi: "Bài kệ đó có phải là ông làm chăng?" Ngài Thần Tú thưa: "Thật là con làm, chẳng dám vọng cầu Tổ vị, chỉ mong Hòa thượng từ bi xem đệ tử có chút ít trí tuệ hay không?" Tổ bảo: "Ông làm bài kệ này chưa thấy được bản tánh, chỉ đến ngoài cửa, chưa vào được trong cửa, kiến giải như thế tìm Vô thượng Bồ-đề trọn không thể được. Vô thượng Bồ-đề phải được ngay nơi lời nói mà biết bản tâm mình, thấy được bản tánh mình chẳng sanh chẳng diệt. Đối trong tất cả thời mỗi niệm mỗi niệm tự thấy, muôn pháp đều không kẹt, một chơn thì tất cả đều chơn, muôn cảnh tự như như, tâm như như đó tức là chân thật. Nếu thấy được như thế tức là tự tánh Vô thượng Bồ-đề. Ông hãy đi, một hai ngày sau, suy nghĩ làm một bài kệ khác đem lại tôi xem, bài kệ của ông nếu vào được cửa, tôi sẽ trao y pháp cho ông". Ngài Thần Tú làm lễ lui ra, trải qua mấy ngày, làm kệ cũng không thành, trong tâm hoảng hốt, thần tư bất an, ví như ở trong mộng, đi ngồi không an.

Lại hai ngày sau, có một chú bé đi qua chỗ giã gạo, đọc bài kệ này. Ngài vừa nghe liền biết bài kệ này chưa thấy được bản tánh. Tuy chưa nhờ chỉ dạy mà sớm đã biết được đại ý, bèn hỏi chú bé: "Tụng đó là kệ gì?" Chú bé đáp: "Cái ông nhà quê không biết, Đại sư nói: Người đời sanh tử là việc lớn, muốn được truyền y pháp, khiến đệ tử làm kệ trình Ngài xem, nếu ngộ được đại ý, liền trao y pháp làm Tổ thứ sáu. Thượng tọa Thần Tú viết bài kệ Vô tướng ở vách hành lang phía Nam, Đại sư khiến mọi người đều đọc, y theo bài kệ này mà tu thì sẽ khỏi đọa vào đường ác, sẽ có lợi ích lớn."

Ngài thưa: "Thượng nhân! Đã hơn tám tháng, tôi ở nhà bếp giã gạo, chưa từng đến nhà trên, mong thượng nhân dẫn tôi đến trước bài kệ lễ bái."* Chú bé dẫn Ngài đến trước bài kệ lễ bái. Ngài bảo: "Huệ Năng không biết chữ, nhờ thượng nhân vì tôi đọc giúp." Khi ấy có quan Biệt Giá ở Giang Châu là Trương Nhật Dụng liền to tiếng đọc. Ngài nghe rồi bèn nói: "Tôi cũng có một bài kệ, mong Biệt Giá vì tôi viết." Quan Biệt Giá nói: "Ông cũng làm kệ nữa sao? Việc này thật ít có!" Ngài nói với Biệt Giá rằng: "Muốn học đạo Vô thượng Bồ-đề, không được khinh người mới học. Kẻ hạ hạ cũng có cái trí thượng thượng, còn người thượng thượng cũng không có ý trí. Nếu khinh người thì có vô lượng vô biên tội". Quan Biệt Giá nói: "Ông cứ tụng kệ, tôi sẽ viết giúp ông. Nếu ông được pháp thì phải độ tôi trước, chớ quên lời này." Ngài đọc bài kệ:

Bồ đề bổn vô thọ,                  Bồ-đề vốn không cội,

Minh cảnh diệc phi đài.       Gương sáng cũng chẳng đài.

Bản lai vô nhất vật,               Xưa nay không một vật,

Hà xứ nhạ trần ai?                 Chỗ nào dính bụi nhơ?

Viết bài kệ xong, đồ chúng ai nấy đều kinh hoàng, không ai mà không xuýt xoa, mọi người cùng bảo nhau rằng: "Lạ thay! Không thể do tướng mạo mà đoán người, lâu nay chúng ta đã sai nhục thân Bồ-tát làm việc." Tổ thấy cả chúng đều kinh ngạc, sợ có người làm hại Ngài nên mới lấy giày xóa hết bài kệ, nói: "Cũng chưa thấy tánh." Chúng cũng cho là Tổ nói đúng. Ngày kế Tổ thầm đến nhà bếp thấy Ngài đeo đá giã gạo, mới bảo rằng: "Người cầu đạo vì pháp quên mình đến như thế ư?" Tổ lại hỏi: "Gạo trắng hay chưa?" Ngài thưa: "Gạo trắng đã lâu, còn thiếu giần sàng." Tổ lấy gậy gõ vào cối ba tiếng rồi đi. Ngài liền hội được ý Tổ, đến khi trống đổ canh ba liền lén vào thất. Tổ lấy cà-sa che chung quanh không để người thấy, vì Ngài nói kinh Kim Cang, đến câu "Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm", ngay lời đó Ngài liền đại ngộ, thấy tất cả muôn pháp chẳng lìa tự tánh, liền thưa với Tổ rằng:

Đâu ngờ tự tánh vốn tự thanh tịnh,

Đâu ngờ tự tánh vốn không sanh diệt,

Đâu ngờ tự tánh vốn tự đầy đủ,

Đâu ngờ tự tánh vốn không dao động,

Đâu ngờ tự tánh hay sanh muôn pháp!

Ngũ Tổ biết Ngài đã ngộ được bản tánh mới bảo: "Chẳng biết bản tâm, học pháp vô ích, nếu biết được bản tâm mình, thấy được bản tánh mình, tức gọi là Trượng phu, là Thầy của trời người, là Phật." Canh ba thọ pháp, mọi người đều không biết. Tổ liền truyền pháp đốn giáo và y bát, nói rằng: "Ngươi là vị Tổ đời thứ sáu, khéo tự hộ niệm, rộng độ chúng hữu tình, truyền khắp đời sau, không khiến cho đoạn tuyệt. Nghe ta nói kệ:

Hữu tình lai hạ chủng,           Hữu tình đến gieo giống,

Nhân địa quả hoàn sanh.       Nhân đất quả lại sanh.

Vô tình diệc vô chủng,            Vô tình cũng không giống,

Vô tánh diệc vô sanh.         Không tánh cũng không sanh.

Tổ lại bảo: "Xưa Đại sư Đạt Ma ban đầu đến cõi này, người chưa tin nên mới truyền y này để làm tín thể, đời đời truyền nhau, pháp thì dùng tâm truyền tâm, đều khiến cho tự ngộ tự giải. Từ xưa Phật Phật chỉ truyền bản thể, thầy thầy thầm trao bản tâm, y là đầu mối của sự tranh giành, nên dừng ngay nơi ngươi, chớ truyền nữa. Nếu truyền y này thì mạng của người nhận y cũng như sợi chỉ mành. Ông phải đi nhanh e sẽ có người hại ông." Ngài thưa: "Bây giờ con phải đi đâu?" Tổ bảo: "Gặp ấp Hoài thì dừng, gặp ấp Hội thì ẩn." Canh ba lãnh được y bát xong, Ngài thưa: "Huệ Năng vốn là người miền Nam, không biết đường đi, làm sao ra được bến đò?" Ngũ Tổ bảo: "Ông chẳng phải lo, ta tự đưa ông đi." Ngũ Tổ liền đưa đến bến đò Cửu Giang, bảo Ngài Huệ Năng lên thuyền và Tổ bèn cầm chèo tự chèo. Ngài thưa: "Thỉnh Hòa thượng ngồi, để đệ tử chèo." Tổ bảo: "Phải là ta độ ông." Ngài thưa: "Khi mê thì Thầy độ, ngộ rồi thì con tự độ. Độ tên tuy là một nhưng chỗ dùng không đồng. Huệ Năng sanh nơi biên phương, tiếng nói không đúng, nhờ Thầy truyền pháp nay đã được ngộ, chỉ nên tự tánh tự độ." Tổ bảo: "Như thế! Như thế! Về sau Phật pháp do ông mà được thạnh hành. Ông đi ba năm, ta sẽ thệ thế. Nay ông đi an vui, nỗ lực hướng về Nam, không nên nói pháp sớm, Phật pháp sẽ gặp tai nạn." Ngài từ giã Ngũ Tổ rồi cất bước đi về phương Nam, trong khoảng hai tháng thì đến ngọn núi Đại Dữu.

Ngũ Tổ trở về, mấy ngày không thượng đường, chúng nghi nên đến hỏi: "Hòa thượng có ít bệnh, ít não chăng?" Ngài đáp: "Bệnh thì không, mà y pháp đã về Nam rồi." Chúng hỏi: "Ai là người được truyền?" Tổ bảo: "Người có khả năng thì được." Chúng liền biết. Khi đó vài trăm người đuổi theo để cướp y bát. Một vị tăng họ Trần, tên Huệ Minh, trước đây là tướng quân bậc Tứ phẩm, tánh hạnh thô tháo, dốc sức đuổi theo chạy trước mọi người và đuổi kịp Ngài. Ngài để y bát trên bàn thạch nói: "Y này là biểu tín, có thể dùng sức mà tranh giành sao!" Ngài liền ẩn trong lùm cỏ, Huệ Minh đến cầm y lên mà không nhúc nhích, mới kêu rằng: "Cư sĩ, cư sĩ! Tôi vì pháp mà đến chứ không phải vì y." Ngài bèn bước ra ngồi trên bàn thạch. Huệ Minh liền làm lễ thưa: "Mong cư sĩ vì tôi nói pháp." Ngài bảo: "Ông đã vì pháp mà đến thì nên dứt sạch các duyên, chớ sanh một niệm, tôi sẽ vì ông mà nói." Huệ Minh im lặng giây lâu. Ngài bảo: "Không nghĩ thiện, không nghĩ ác, chính khi ấy, cái gì là bản lai diện mục của Thượng tọa Minh?" Huệ Minh ngay câu nói đó liền đại ngộ. Lại hỏi: "Ngoài mật ngữ, mật ý trên, còn có mật ý khác chăng?" Ngài bảo: "Vì ông nói ra, tức không phải là mật rồi, nếu ông phản chiếu thì mật ở ngay bên ông." Huệ Minh thưa: "Huệ Minh tuy ở Huỳnh Mai, nhưng vẫn chưa tỉnh ra diện mục của chính mình, nay nhờ chỉ dạy cũng như người uống nước, lạnh nóng tự biết. Nay cư sĩ tức là Thầy của Huệ Minh." Ngài bảo: "Ông nếu như thế thì cùng tôi đồng thờ Tổ ở Huỳnh Mai làm Thầy, phải khéo tự hộ trì." Huệ Minh hỏi thêm: "Huệ Minh từ nay về sau nên đi về đâu?" Ngài bảo: "Gặp Viên thì dừng, gặp Mông thì ở." Huệ Minh liền đảnh lễ từ giả trở về, xuống núi bảo những người đuổi theo: "Đi trên những đồi núi này trọn không tìm ra tung tích, phải đi qua đường khác tìm." Cả chúng đuổi theo đều cho là đúng. Về sau, Huệ Minh đổi tên là Đạo Minh, để tránh chữ đầu của tên Thầy.

Sau, Ngài đến Tào Khê lại bị bọn người ác tìm đuổi nên ở nơi Tứ Hội lánh nạn trong đám thợ săn. Trải qua mười lăm năm, Ngài đã tùy nghi nói pháp cho họ nghe. Hằng ngày, những người thợ săn bảo giữ giềng lưới, khi thấy những con vật mắc lưới, Ngài đều thả. Mỗi khi đến bữa ăn, Ngài hái rau gởi luộc trong nồi thịt, hoặc có người hỏi thì đáp: "Chỉ ăn rau ở bên thịt." Một hôm, Ngài suy nghĩ: "Thời hoằng pháp đã đến, không nên trốn lánh mãi." Ngài liền đến chùa Pháp Tánh ở Quảng Châu, gặp lúc Pháp sư Ấn Tông đang giảng kinh Niết-bàn. Khi ấy có gió thổi lá phướn động, một vị tăng nói gió động, vị khác nói phướn động, hai người cãi nhau không thôi. Ngài tiến tới nói: "Không phải gió động, không phải phướn động mà tâm nhân giả động." Cả chúng đều ngạc nhiên. Ấn Tông mời Ngài lên vị trí trên và gạn hỏi áo nghĩa. Thấy Ngài đối đáp lời nói giản dị mà nghĩa lý rất đúng, không theo văn tự, Ấn Tông nói: "Cư sĩ quyết định không phải là người thường, đã lâu nghe y pháp của Huỳnh Mai đi về phương Nam, đâu chẳng phải là cư sĩ?" Ngài nói: "Chẳng dám." Ấn Tông liền làm lễ, xin đưa y bát đã được truyền cho đại chúng xem. Ấn Tông lại thưa: "Huỳnh Mai phó chúc, việc chỉ dạy như thế nào?" Ngài bảo: "Chỉ dạy tức không, chỉ luận về kiến tánh, chẳng luận thiền định giải thoát." Ấn Tông thưa: "Sao chẳng luận thiền định giải thoát?" Ngài bảo: "Vì ấy là hai pháp, không phải là Phật pháp. Phật pháp là pháp chẳng hai." Ấn Tông lại hỏi: "Thế nào Phật pháp là pháp chẳng hai?" Ngài bảo: "Pháp sư giảng kinh Niết-bàn, rõ được Phật tánh, ấy là Phật pháp là pháp chẳng hai. Như Bồ-tát Cao Quí Đức Vương bạch Phật: Phạm tứ trọng cấm, tạo tội ngũ nghịch và nhất xiển-đề v.v... sẽ đoạn thiện căn Phật tánh chăng? Phật bảo: Thiện căn có hai, một là thường, hai là vô thường, Phật tánh chẳng phải thường, chẳng phải vô thường, thế nên chẳng đoạn, gọi là chẳng hai; một là thiện, hai là chẳng thiện, Phật tánh chẳng phải thiện, chẳng phải chẳng thiện, ấy là chẳng hai; uẩn cùng với giới, phàm phu thấy hai, người trí rõ thấu tánh nó không hai, tánh không hai tức là Phật tánh". Ấn Tông nghe nói hoan hỷ chắp tay thưa: "Tôi giảng kinh ví như ngói gạch, nhân giả luận nghĩa như vàng ròng." Khi ấy Pháp Sư Ấn Tông vì Ngài cạo tóc, nguyện thờ làm Thầy.

Ngài bèn ở dưới cây bồ-đề khai pháp môn Đông Sơn. Cả chúng nghe pháp đều hoan hỉ làm lễ rồi lui.

* Có bản nói: Tôi cũng cần tụng bài kệ này để kết duyên.

Thích Tâm Hạnh - Vedepphatphap.vn